Streetscapes_HPS4

KHÔNG GIAN CÔNG CỘNG HÀ NỘI
Hà Nội nằm trong một số ít các thành phố vừa có mật độ dân số cao nhất vừa hiếm KGCC nhất. Không gian xanh cũng rất hạn hẹp, ngay cả khi so sánh với các đô thị Châu Á điển hình.
SkylineStats15

TỶ LỆ KHÔNG GIAN XANH TRÊN ĐẦU NGƯỜI TẠI CÁC THÀNH PHỐ CHÂU Á (m²/đầu người)

VIDEO       Không gian công cộng của Hà Nội là gì?
Phần nghiên cứu này sẽ cung cấp một bức tranh tổng thể về sự thay đổi trong phân bố của KGCC Hà Nội trong các năm từ 2000 đến 2010, chất lượng và sử dụng của KGCC.

Divider4sections_enlivenem

Divider1section_enlivenem4

2000-2010

History11

Sự phát triển của KGCC Hà Nội rất khác biệt tùy theo các loại hình KGCC khác nhau:

VƯỜN HOA CÔNG CỘNG

11 vườn hoa mới. Hơn 125,000m² được bố sung trong mười năm. Dựa theo sự tăng trưởng dân số, điều nay cho thấy một sự tăng nhẹ, thêm 0,02m² trên đầu người.

2000

ha
m² trên đầu người

2010

ha
m² trên đầu người

CÔNG VIÊN

10 công viên mới. Gần1 triệu m² công viên mới được bổ sung trong một thập kỷ. Tuy nhiên, con số này vẫn chưa đủ để đáp ứng sự tăng trưởng dân số. Nhìn chung, tỷ lệ mét vuông công viên trên đầu người giảm đi 0,61m² từ năm 2000 đến năm 2010.

2000

ha
m² trên đầu người

2010

ha
m² trên đầu người

KHÔNG GIAN MẶT NƯỚC

Giảm thiểu nghiêm trọng. Hà Nội đã mất đi một nửa số hồ ao. Hơn một trăm mặt nước bị lấp bỏ. Tống cộng biến mất 1.5 triệu m² không gian mặt nước và giảm thiểu nghiêm trọng tỷ lệ từ trên 11m² trên đầu người xuống tới dưới 5m² trên đầu người.

2000

ha
m² trên đầu người
224   MẶT NƯỚC

2010

ha
m² trên đầu người
123   MẶT NƯỚC

BẢN ĐỒ

Carte_icon2

VƯỜN HOA CÔNG CỘNG

CÔNG VIÊN VÀ KHÔNG GIAN MẶT NƯỚC

Sự phân bổ của các vườn hoa công cộng từ năm 2000 đến 2010
Vườn hoa năm 2000. Vườn hoa mới năm 2010.
Sự phân bổ của các công viên và không gian mặt nước từ năm 2000 đến năm 2010
Công viên năm 2000. Công viên mới năm 2010.
Mặt nước năm 2010. Mặt nước mất từ năm 2000.

Các bản đồ này cho thấy…

Từ năm 2000 đến năm 2010, việc bổ sung các vườn hoa được phân bố khá cả trong nội thành và ngoại ô của Thành phố Hà Nội. Tuy nhiên các công viên không được mức độ phân bổ tương tự. Các công viên được bổ sung chủ yếu tại các khu vực ngoại biên thành phố phía Nam và phía Tây trong khoảng thời gian này.

HÌNH ẢNH CỦA CÁC KHÔNG GIAN MẶT NƯỚC BỊ THU HẸP HOẶC BIẾN MẤT VÀO NHỮNG NĂM 2000

Chuyển thanh trượt Phải (Trưỡc) và Trái (Sau)

Khu vực Khương Trung
Không gian mặt nước    Đất vỡ hoang
Khu vực Hồ Bồ Đề, (Long Biên)

Mặc dù đã bị mất nhiều mặt nước, Thành phố Hà Nội đã có những nỗ lực rõ rệt trong việc cải tạo bờ của một số hồ. Cụ thể là việc bổ sung và cải tạo các ghế đá, tiện ích thể thao, đường đi và lối dạo bộ, cây và tiểu cảnh.

 

Việc nâng cấp này đã khiến cho nhiều ao, hồ trong thành phố trở nên đẹp hơn và có vai trò như những KGCC chính thống. Người dân nhiều nơi sử dụng rất nhiều các đường dạo bộ xung quanh ao, hồ và các tiện ích đi kèm, đặc biệt là vào buổi sáng sớm. Tuy nhiên, những không gian này luôn bị đe dọa lấn chiếm bởi các đơn vị tư nhân, đặc biệt vào buổi tối khi các quán café và các hoạt động thương mại khác tràn ra sử dụng KGCC này.

HÌNH ẢNH QUÁ TRÌNH CẢI TẠO KHÔNG GIAN DẠO BỘ TRONG NHỮNG NĂM 2000

Khu vực Trích Sài, Hồ Tây
Hồ Xã Đàn

CHÍNH SÁCH

Policy_icon16
VISIBLE IMPACT:

Chính sách hướng dẫn việc tạo dựng và quản lý các KGCC tại Hà Nội đã phát triển đáng kể từ những năm 2000. Trong 50 năm trở lại đây, số lượng các văn bản pháp luật liên quan đến KGCC đã tăng mạnh, hơn nữa sự phát triển về nội dung của các văn bản cũng rất đáng kể.

Trong đó có năm thay đổi lớn nổi bật:

  • Trong khi những chính sách cũ coi KGCC đô thị như một yếu tố không rõ ràng của hạ tầng xã hội của thành phố, thì những chính sách mới đây đã chỉ rõ KGCC như một yếu tố trực thuộc thành phố;
  • Hệ thống quy hoạch đô thị Việt Nam trước đây rất công năng, giờ đây đang chuyển biến tới một cách phát triển và quản lý đô thị có hệ thống, hướng tới chất lượng và tích hợp đầy đủ hơn;
  • Những nhà hoạch định chính sách ghi nhận rõ hơn về những đóng góp tích cực về nhiều mặt của KGCC (xã hội, môi trường, sức khỏe cộng đồng và thẩm mỹ) cho các thành phố của Việt Nam;
  • Việc thiết kế đô thị được đề cập đến trong các chính sách quan trọng cho thấy chất lượng KGCC được chú trọng nhiều hơn; và,
  • Việc bảo vệ các KGCC khỏi xuống cấp và các hình thức lấn chiếm thương mại được coi như một điều thiết yếu.
CÁC TÁC ĐỘNG RÕ RỆT:
Nâng cao nhận biết về những vấn đề này cho các nhà hoạch định chính sách, nhà quy hoạch đô thị và chính quyền địa phương
+
Hiểu biết mới về tầm quan trọng của việc phân bổ các KGCC nhằm tạo dựng các thành phố Việt Nam sống tốt hơn
=
Số lượng và tổng diện tích các KGCC tăng đáng kể
Tuy nhiên…

Định hướng của những chính sách mới vẫn thiếu các biện pháp cưỡng chế để có thể củng cố các chính sách một cách hiệu quả. Những chính sách về KGCC vẫn tập trung vào sự phân bố không gian hai chiều và các mục tiêu về số lượng (tỷ lệ m2 trên đầu người, diện tích bề mặt tối thiểu, bán kính phục vụ, …).

Hơn nữa…

Hà Nội vẫn còn rất xa mục tiêu
7m2 không gian xanh “ngoài các đơn vị ở” trên đầu người đề ra bởi Bộ Xây dựng.
(Tiêu chuẩn xây dựng Việt Nam, 2008, mục 1.4.2)

Một số các “công viên” được xây dựng và quản lý bởi các đơn vị tư nhân, nổi tiếng nhất là Công viên Nước Hồ Tây và Công viên Mặt Trời mới (cả hai đều nằm bên bờ Hồ Tây). Những không gian này được tầng lớp trung lưu và các gia đình khá giả đánh giá cao, tuy nhiên nó vẫn không phù hợp cho các hộ dân thu nhập thấp tại Hà Nội.

TÍNH CÔNG CỘNG

Public_icon6

“Tính công cộng” là độ dễ tiếp cận, tính mở và tính toàn diện của một KGCC. Nó được sử dụng để đánh giá mức độ dễ sử dụng, khả năng tiếp cận, khả năng làm chủ và hòa mình vào với những không gian này một cách thoải mái. Những nghiên cứu gần đây đều cho biết, để đạt được tính công cộng cao nhất, một KGCC cần đạt được chất lượng cao trong ba chủ đề sau:

Là một địa bàn trung lập, không có các lực lượng cưỡng chế, dành cho tất cả mọi người và dành cho đám đông (chấp nhận những khác biệt về mặt xã hội).

Cung cấp cho người sử dụng không gian để giao tiếp xã hội, hòa nhập và trao đổi.

Tượng trưng và đại diện cho cộng đồng chứ không mang hình ảnh của một cá nhân hay đơn vị tư nhân.

Trong nghiên cứu này, chúng tôi bắt đầu đánh giá “tính công cộng” của các KGCC ở Hà Nội bằng cách chấm điểm 34 công viên và vườn hoa trong các quận của thành phố. Những không gian này được đánh giá trên phương diện: kiểm soát hành vi; bảo trì cơ sở vật chất và cung cấp các tiện tích; và tính sinh động.
Kết quả của chúng tôi bắt đầu cho thấy một bức tranh về tính công cộng của các công viên và vườn hoa tại Hà Nội. Để hoàn thiện bức tranh này, cần phải đầu tư thêm công sức (ví dụ để nghiên cứu phí vào cửa cho người sử dụng, các yếu tố về thiết kế ảnh hưởng đến cách tiếp cận, cách quản lý) và cần nhân rộng ra nhiều loại hình KGCC khác (sân, sân chơi khu phố, …).

MỨC ĐỘ CÔNG CỘNG CỦA CÁC KCGG HÀ NỘI

KIỂM SOÁT HÀNH VI
BẢO TRÌ CƠ SỞ VẬT CHẤT VÀ CUNG CẤP CÁC TIỆN ÍCH
TÍNH SINH ĐỘNG
KIỂM SOÁT HÀNH VI

(đo sự hiện diện hay vắng mặt của nhân viên bảo vệ và các hoạt động của họ trong KGCC)

Sự hiện diện của các yếu tố kiếm soát hành vi trong các công viên (n=17) và vườn hoa (n=16) ở Hà Nội

Công viên    Vườn hoa
BẢO TRÌ CƠ SỞ VẬT CHẤT VÀ CUNG CẤP CÁC TIỆN ÍCH

(đo bởi đánh giá chất lượng các công viên, việc bảo trì các vườn hoa và qua quan sát bằng mắt về các tiện ích sẵn có)

Việc bảo trì cơ sở vật chất của các công viên tại Hà Nội không đồng đều. Vấn đề phổ biến nhất là yếu kém về quản lý rác thải: các thùng rác quá đầy, rác vứt trên các lối đi; và chất lượng nước kém ở các công viên nơi có ao, hồ

Bảo trì cơ sở vật chất tại các công viên và vườn hoa Hà Nội (n=34)
Cung cấp các tiện tích tại các công viên và vườn hoa Hà Nội (n=34)

Hầu hết các công viên và vườn hoa Hà Nội cung cấp rất nhiều tiện ích phong phú cho người sử dụng. Phổ biến nhất là các quán trà đá, có mặt tại ba trên bốn công viên và tại gần hai phần ba các vườn hoa công cộng. Hơn hai phần ba các công viên và một phần ba các vườn hoa có nhà vệ sinh cho người sử dụng.

Quán trà đá trong ...
Vệ sinh trong ...

ĐÁNH GIÁ: Điểm của các công viên cao hơn điểm của các vườn hoa rất nhiều về mặt cung cấp tiện ích. Hơn nữa vườn hoa được đánh giá trung bình và gần một phần tư bị chấm điểm kém trong hạng mục này.

GIẢI THÍCH: Các chính sách giới hạn các vườn hoa bởi các hoạt động khá hẹp; chúng chỉ được sử dụng như những nơi nghỉ ngơi nhanh và không hỗ trợ các hoạt động vui chơi giải trí.

TÍNH SINH ĐỘNG

(đo bởi mức độ cung cấp các tiện ích giúp giao tiếp xã hội, hỗ trợ tham gia chủ động và thụ động vào các hoạt động khác nhau)

Cơ hội để tham gia thụ động (n=34)

Hầu hết các KGCC ở Hà Nội tạo ra nhiều cơ hội để tham gia các hoạt động nhẹ (thụ động) (ghế băng, chỗ ngồi, ngắm cảnh tự nhiên, và những người sử dụng khác). Ngoài ra, hầu hết các công viên ở Hà Nội (17 trên 18 cái) đều có nhiều chỗ dành cho các hoạt động mạnh đa dạng (sân thể thao, mặt bằng cứng, lối chạy). Con số các vườn hoa có chỗ như thế này thấp hơn hẳn (chỉ có 5 trên 16 cái) nhưng nguyên nhân là vì vườn hoa có diện tích nhỏ hẹp hơn công viên và thường là được thiết kế dành cho các hoạt động nhẹ.

Ý KIẾN CỦA NGƯỜI SỬ DỤNG

Thumbs_icon3

Likes

THÍCH

Chất lượng môi trường tự nhiên
– 62% các bạn trẻ cho biết họ thích KGCC bởi không khí trong lành, mặt nước và cây xanh.
Giao lưu xã hội
– 33% đánh giá cao công viên vì nó là một điểm hẹn để giao lưu với bạn bè; cung cấp một môi trường sinh động và dễ chịu trong thành phố.
Gần nhà hoặc gần nhà bạn
– 5% thích công viên vì vị trí thuận lợi.

Dislikes

KHÔNG THÍCH

Chất lượng môi trường kém
– 45% các bạn trẻ chê chất lượng môi trường ở các KGCC, vì mùi hôi từ hồ, rác thải, việc giữ gìn cơ sở vật chất kém, nhiều muỗi và côn trùng.
Quá đông, diện tích nhỏ, chó thả rông
– 14% không thích sự đông đúc ở các công viên.
Trở ngại trong việc tiếp cận
– 21% phản đối thu phí vào cửa, giá cả của đồ ăn, thức uống trong công viên quá cao và các trở ngại về mặt vật chất và kinh tế khác.
Vấn đề an toàn và các hành vi quá đà
– 7% không thích việc chiếu sáng kém vào buổi tối, việc những người sử dụng khác cấm đoán hoạt động của giới trẻ và sự có mặt của những người không thân thiện.

Ý KIẾN CỦA GIỚI TRẺ VỀ VIỆC THƯƠNG MẠI HÓA CÁC KGCC

Từ thời kỳ đổ mới, Hà Nội đã chịu nhiều áp lực từ sự phát triển nhanh chóng của lĩnh vực tư nhân. Điều này dẫn đến những lấn chiếm KGCC bởi các hoạt động thương mại lớn nhỏ, đã xảy ra và có nguy cơ xảy ra. Ví dụ điển hình của việc lấn chiếm tư nhân bao gồm:

  • nhà hàng và quán cà phê lấn chiếm bờ hồ (đặc biệt vào buổi tối);
  • người bán hàng rong với các quán nhỏ và ghế nhựa trên lối đi và sân của các công viên và vườn hoa;
  • các ki ốt thương mại đặt tại các công viên nhiều tuần trước các sự kiện lớn (VD: Tết Nguyên đán, Trung thu);
  • các bãi trông xe sử dụng sân của KGCC vào ban ngày.

Các bạn trẻ có nhiều ý kiến trái chiều, nhưng ít các nhận xét tiêu cực về sự hiện hiện của quán trà đá tại các công viên ở Hà Nội.

Ý KIẾN CỦA GIỚI TRẺ VỀ PHÍ VÀO CỬA

Hầu hết các công viên lớn của Hà Nội thu phí vào cửa của người sử dụng. Mặc dù chi phí này nhìn chung được sử dụng vào việc bảo trì, phí vào cửa (và ki ốt thu phí) cũng là một cách để kiểm soát ai vào sử dụng công viên. Các bạn trẻ nhìn nhận phí vào cửa như một trở ngại: mặc dù phí vào cửa thường thấp, các bạn sinh viên thấy giá đó đắt đỏ. Các bạn trẻ thường không thích sự kiểm soát ở cổng vào với việc thu phí vào cửa. Họ cũng cho rằng việc thu phí rất tùy tiện vì họ thu phí của các đối tượng sử dụng khác nhau tùy theo cách họ ăn mặc hoặc cách họ đi vào công viên.

 

Vé vào cửa không phải là vấn đề về tài chính mà là rào cản về hành chính đối với những người đến công viên. Mọi người có thể tin tưởng rằng họ sở hữu công viên, và vì vậy họ có thể đến bất cứ lúc nào họ muốn. Nhưng thực ra, họ phải mua vé để đến đó, phải xếp hàng để mua vé, phải trình vé cho bảo vệ. Tất cả những bước này làm cho họ cảm thấy không thoải mái.”

(phỏng vấn 30/09/2013).